KHÁI NIỆM LUẬT QUỐC TẾ

Hình ảnh: KHÁI NIỆM LUẬT QUỐC TẾ

Khái niệm luật quốc tế
Sinh viên luật từ các quốc gia khác nhau nghiên cứu luật của họ. Luật hành chính, luật hình sự, luật dân sự. Và chỉ có một luật mà tất cả các luật sư đều dạy cho tất cả mọi người – đó là luật quốc tế. Mục đích của bài giảng này là để hiểu luật quốc tế là gì.
Thuật ngữ “luật quốc tế”. Bản thân cụm từ này có nguồn gốc từ tiếng Latinh và được viết là Jus inter gentium, dịch theo nghĩa đen là luật giữa các dân tộc, tức là luật quốc tế. Hầu hết các ngôn ngữ hiện đại đều là luật quốc tế và quy định: Völkerrecht (tiếng Đức), international law (tiếng Anh), droit international (tiếng Pháp), derecho internacional (tiếng Tây Ban Nha).
Khái niệm “luật quốc tế”.
Trong tất cả các định nghĩa của luật quốc tế, chúng tôi đã chọn một định nghĩa do F.F. Martens cách đây hơn một trăm năm, nhưng vẫn còn phù hợp cho đến ngày nay: “Theo luật quốc tế, chúng ta hiểu một tập hợp các quy phạm pháp luật nhằm xác định các điều kiện để các dân tộc đạt được mục tiêu cuộc sống trong phạm vi quan hệ chung của chúng.” Chúng ta hãy xem xét từng dấu hiệu của luật quốc tế được trình bày trong định nghĩa này.
Tính tổng thể của các quy phạm pháp luật là một dấu hiệu của tính quy phạm của luật quốc tế và cho thấy rằng định nghĩa này được đưa ra theo tinh thần của trường phái luật tích cực. Đây là cách hiểu luật theo nghĩa khách quan của luật (theo nghĩa chủ quan, luật quốc tế được hiểu là thẩm quyền, ví dụ, theo nghĩa này, bạn có thể nói: “Tôi có quyền khiếu nại lên Tòa án nhân quyền châu Âu”). Và điều này cũng cho chúng ta biết rằng luật quốc tế là một hệ thống.
Con người với tư cách là chủ thể của luật quốc tế. Mặc dù chúng ta nhìn nhận một cách đầy đủ về nhà nước trên trường quốc tế ngày nay là chủ thể chính của luật quốc tế, nhưng nhân dân luôn đứng sau nó, đứng sau nhà nước. Và chính người dân, có thể là dân xâm lược hoặc dân buôn và những loại dân khác, những người sau này luôn đứng sau nhà nước và quyết định hành vi quốc tế của mình. Ngoài chủ thể chính là “nhà nước nhân dân”, một số chủ thể khác được phân biệt trong luật quốc tế: các tổ chức quốc tế, các tập đoàn và thậm chí một cá nhân.
Sự hiện diện mục tiêu của các chủ thể tham gia quan hệ quốc tế. Các chủ thể của luật quốc tế luôn theo đuổi những mục tiêu riêng khi tham gia quan hệ quốc tế. Có những mục tiêu rập khuôn, ví dụ, mở rộng lãnh thổ, thương mại, công nhận, ảnh hưởng quốc tế và có những mục tiêu duy nhất, ví dụ, để chung sống hòa bình với các nước láng giềng.

Mối quan hệ tương hỗ là không gian giao tiếp mà các quốc gia tham gia vào. Nó có thể là không gian của chiến tranh, thương mại, khoa học, và nhiều không gian khác. Các quốc gia – họ cũng giống như con người, họ không thể ở một mình lâu dài trong biên giới của họ. Và do đó nhà nước cần giao tiếp giữa các quốc gia, bằng cách tham gia vào các quan hệ quốc tế.
Bản chất của luật quốc tế là điều bản thân luật quốc tế tồn tại. Đây vừa là mục tiêu của các chủ thể của luật quốc tế, vừa là mục tiêu trên cả những mục tiêu này. Đây là mục tiêu của nền văn minh Nhân loại. Ngày nay có một số lý thuyết về bản chất của luật quốc tế.
Lý thuyết hài hòa ý chí là một lý thuyết xuất phát từ lý thuyết khế ước xã hội (Hobbes, Locke, Rousseau), lý thuyết này giải thích nguồn gốc của nhà nước. Khi các dân tộc cảm thấy mệt mỏi vì chiến đấu, họ đồng lòng, nhường nhịn lẫn nhau. Luật pháp quốc tế là để duy trì các hiệp định này. Có ba giai đoạn hòa hợp ý chí: không vượt qua ý chí, sự giao nhau của các ý chí, sự phối hợp của các ý chí.
Lý thuyết về chủ nghĩa thực dụng. Nhà nước trên trường quốc tế được định hướng bởi “cá nhân” “ích kỷ” bất chấp lợi ích của người khác. Các quốc gia chỉ đồng ý với nhau khi họ bị buộc phải làm như vậy hoặc khi điều đó phù hợp với họ. Lý thuyết này giống với ý tưởng của nhà kinh tế học Adam Smith với bàn tay vô hình với thị trường của anh ta. Mặc dù ai cũng ích kỷ và chỉ muốn lợi ích cho mình, nhưng một thế lực vô hình và không rõ nguồn gốc nào đó sẽ điều chỉnh những mối quan hệ này vì lợi ích chung.
Thuật ngữ pháp lý quốc tế. Luật quốc tế là các văn bản; văn bản dưới dạng được viết ra (hợp đồng quốc tế), và bằng miệng (hội nghị quốc tế). Văn bản luôn được viết bằng một số ngôn ngữ. Luật pháp quốc gia được soạn thảo bằng ngôn ngữ chính thức của nhà nước. Ngược lại với chúng, không có ngôn ngữ duy nhất của luật quốc tế, bởi vì điều này sẽ chỉ ra cái chết của luật quốc tế. Luật quốc tế là các văn bản được hài hòa liên tục bằng các ngôn ngữ khác nhau.
Luật quốc tế và các hiện tượng liên quan. Luật pháp quốc tế không chỉ có trên hành tinh Trái đất. Nó cùng tồn tại với các hệ thống pháp luật khác và các hiện tượng khác, và chúng ta phải phân biệt giữa chúng.
Luật quốc tế và luật quốc gia khác nhau về phạm vi của chúng (các hành vi của quốc gia trong lãnh thổ nhà nước và quốc tế, ở mức độ lớn hơn hoặc thấp hơn, trên lãnh thổ toàn cầu).

luật quốc tế

KHÁI NIỆM LUẬT QUỐC TẾ

Tác giả Роман Мельниченко được chia sẻ tại website: Kimochimart.com.